NHỮNG GIAI THOẠI TRÊN ĐẤT KINH ĐÔ CỔ

18 Jun 2015
Dừng chân bên ngôi thành cổ Tây Đô, dạo thăm thành cùng hướng dẫn viên du lịch nơi đây du khách sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước công trình “kỳ vĩ” “độc đáo”. Du khách mặc sức chiêm ngưỡng di sản - một công trình thành cổ đã được nhà nghiên cứu người Pháp L.Bezacier đánh giá “là một trong những tác phẩm đẹp nhất của kiến trúc An Nam”, các chuyên gia kiến trúc Nhật Bản nhận định “…là toà thành đá có tầm cỡ của Châu Á” và lắng nghe lịch sử của một vương triều tuy ngắn ngủi nhưng đã có những cách tân đáng ghi nhận, thú vị hơn cả là những giai thoại về triều Hồ luôn cuốn hút và níu giữ chân du khách.

 

  

 

 tnh cung dien xua ve

 Thành Nhà Hồ (hình ảnh minh họa)

 

Lịch sử và những giai thoại về Thành Nhà Hồ được sử sách bắt đầu ghi chép trong “Đại Việt sử ký toàn thư” với sự kiện: “Mùa xuân, tháng Giêng năm Đinh Sửu (1397), Hồ Quý Ly sai Lại bộ Thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tĩnh đi xem đất và đo đạc động An Tôn, phủ Thanh Hóa, đắp thành, đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc, mở đường phố, có ý muốn dời kinh đô đến đó, tháng ba thì công việc hoàn tất”… đó là thành An Tôn, còn gọi là thành Tây Giai hay Thành Nhà Hồ. Và ba năm sau Thành Tây Đô trở thành nhân chứng lịch sử chứng kiến sự chuyển giao quyền lực giữa 2 vương triều Trần - Hồ trong lịch sử phong kiến nước ta, chấm dứt sự tồn tại 175 năm của vương triều Trần.

 

 

 

 

 

tnh cung dien xua 

 Cung điện xưa (hình ảnh minh họa)

 

Trước hết phải nói đến vị vua Hồ Quý Ly người đã xem thành Tây Đô là nơi xây nền đế nghiệp lâu dài của vương triều. Người ta thường ví mỗi công trình thể hiện ý tưởng, tính cách của chủ nhân công trình đó, Thành Nhà Hồ cũng vậy với những hình khối rõ ràng, đường nét dứt khoát ít nhiều cũng đã phản ảnh ý tưởng và tính cách táo bạo, cứng cỏi của chủ nhân toà thành. Hồ Quý Ly được biết đến là một vị vua táo bạo, tài năng, dám nghĩ dám làm nhưng cũng không kém phần lãng mạn. Có giai thoại “Được vợ nhờ một vế đối” còn lưu giữ mối tình “căn duyên tiền định” của Hồ Quý Ly và công chúa Huy Ninh (con gái vua Trần Minh Tông (1314-1329)). Giai thoại còn lưu truyền rằng: Khi đi thăm Điện Thanh Thử thấy cảnh đẹp vua Trần ứng khẩu: “Thanh Thử Điện tiền thiên thụ quế” (Điện Thanh Thử mọc ngàn cây quế). Nhà vua bảo các quan đi theo đọc tiếp câu sau. Hồ Quý Ly nhanh nhảu đọc: “Quảng Hàn Cung lý nhất Chi Mai” (Cung Quảng Hàn có một nhành mai). Vua Trần giật mình vì Nhất Chi Mai là tên công chúa yêu dấu của vua, Quảng Hàn là nơi vua sẽ đặt tên nơi ở cho công chúa. Nhà vua hỏi, Hồ Quý Ly thưa rằng: Câu thơ ấy nhặt được trên bãi cát thuở còn hàn vi. Vua Trần cho là điều trời định, gả công chúa tên là Huy Ninh cho Hồ Quý Ly, sau sinh ra vua Hồ Hán Thường - vị vua thứ 2 của triều Hồ.

 

 

 

Thành Nhà Hồ được xây dựng không chỉ là Quốc đô mà còn là một kiến trúc quân sự có quy mô lớn. Tuy nhiên, thời gian xây dựng thành 3 tháng với 25.000m3 đá, 100.000m3 đất với tổng diện tích bề mặt đá là: 10.111.000m2 mà sử liệu đã ghi chép và sau này thống kê được vẫn là câu hỏi lớn chưa lý giải được. Tốc độ xây thành nhanh đến mức khiến cho một số người đương thời tin rằng Quý Ly đã được thần linh giúp sức nhiều câu truyện dân gian đã được lưu truyền trong đó có giai thoại “Biến giấy thành đá”. Chuyện kể rằng: Thời đó, Hồ Quý Ly đã ra lệnh cho dân đem giấy bản đến nộp để dùng vào việc xây thành. Ban ngày, giấy được dán lại giống các bức tường, sáng ra đã thấy một đoạn thành mới được xây xong. Thực ra, việc Quy Ly bắt dân nộp giấy có thể là chuyện thực vì khi tìm hiểu thứ keo trát ở những kẽ hở giữa hai khối đá xây thành người ta phát hiện đó là hỗn hợp của một số thành phần: vôi, vỏ trấu, mật mía và lẫn cả giấy bản.

 

Đến thăm Thành Nhà Hồ du khách không nên bỏ lỡ cơ hội được đứng trên vọng lâu cổng Nam phóng tầm mắt thưởng lãm khung cảnh thiên nhiên đầy kỳ thú và hiểm yếu vốn đã được chuẩn bị rất kỹ cho việc chọn đất xây thành. Theo truyền thuyết Hồ Quý Ly rất tâm đắc khi lựa chọn vùng đắc địa này và xem đất này là “Thạch bàn long xà - Lục thập niên ký” (nghĩa là: đất rồng chầu, rắn cuộn vững như bàn thạch ở được 60 năm). Thời đó, khu đất xây thành được bao quanh bởi cả sông và núi: Từ cổng Tây đi ra có dòng sông Mã. Phía Đông có dòng sông Bưởi. Phía Bắc gối đầu vào núi Thổ Tượng (núi Voi), phía Nam tiến thẳng về Đún Sơn (tức núi Đún). Hồ Hán Thương là người vốn am tường phong thuỷ đã tâu với vua cha rằng: Con đã xem luỹ đất này đúng là đất rồng chầu, rắn cuốn những đất còn non nên chỉ gọi là “Long, xà ẩm thuỷ - Lục niên ký chủ” (nghĩa là: Nơi rồng rắn hút nước, ở được trên dưới 6 năm thôi). Hay lời khuyên của Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết đã dâng thư can: “…An Tôn là vùng đất hẻo lánh, cuối nước đầu non chỉ hợp với loạn mà không hợp với trị” và sự tồn tại của vương triều Hồ từ năm 1400 – 1407 đã minh chứng điều này.

 

Một giai thoại khác cho rằng: từ cổng Nam mở ra một con đường lát đá dài 2,5 km chạy thẳng về đàn tế Nam Giao được xem là con đường “Thần đạo”, con đường này giống như mũi tên, mà núi Đún nơi đặt Đàn tế thì uốn vòng như cánh cung giương sẵn như một mũi tên bắn thẳng vào thành.

 

 

 

 tnh den tho nang binh khuong

 Đền thờ nàng Bình Khương gắn với giai thoại Hòn đá thiêng

 

Sang thăm thành bên phía cổng Đông nơi được đánh giá có phần tường thành xây dựng và lắp ghép đẹp nhất bởi những khối đá lớn được gọt rũa công phu và khá đều nhau. Đây là phần tường thành xây dựng đầu tiên nên gặp nhiều khó khăn, vất vả, hy sinh và không quên thắp nén nhang tưởng nhớ người thiên cổ. Nơi đây đã gắn liền với giai thoại “Hòn đá thiêng”: Năm 1397 để nhanh chóng dời đô từ Thăng Long về đất An Tôn, Hồ Quý ly đã gấp rút xây dựng thành, việc đào hào, đắp thành, chuyển đá vô cùng khốc liệt. Chồng của nàng Bình Khương là Trần Cống Sỹ được giao xây tường thành phía Đông, trên nền một con sông cổ đã bị lấp nên địa chất nơi đây yếu. Thành xây xong ban ngày, tối lại sụt lở. Không chịu cảnh dã tràng xe cát, lại hiềm nghi mưu phản, nhà vua lệnh chôn sống Trần Cống Sỹ dưới chân thành để làm gương răn đe. Nghe tin dữ, Bình Khương đến đây thảm thiết khóc chồng, rồi đập đầu vào đá. Lạ thay phiến đá nơi nàng tuẫn tiết lõm xuống theo vết đầu nàng đập và vết tay nàng tỳ. Người dân tiếc thương cho số phận nàng đã mang phiến đá về lập đền thờ.

 

 

 

 tnh ho my dam

 Hồ Mỹ Đàm

 

Thăm cổng thành phía Tây là du khách sẽ được chạm và ngắm nhìn phiến đá có kích thước lớn nhất nặng hơn 26 tấn; thăm lại bến và con đường vận chuyển đá xây thành; thăm Nhà cổ của gia đình ông Phạm Ngọc Tùng với hơn 200 năm tuổi… Đi theo phía Tây Bắc của thành du khách có thể ghé Hồ Mỹ Đàm (thuộc làng Phú Yên, xã Vĩnh Yên, huyện Vĩnh Lộc) nơi còn lưu truyền giai thoại “Hồ Mỹ Đàm” đầy bí ẩn. Chuyện kể rằng: Để thoát nước cho khu Hoàng thành và tạo thêm con đường thuỷ nối liền sông Mã với kinh thành, Hồ Quý Ly đã cho đào một đoạn kênh từ sông Mã vào khu vực Tây Bắc Hoàng thành. Theo lệnh của Hồ Quý Ly, con sông đào rộng khoảng 100m, dài khoảng 3km phải hoàn thành trong một đêm. Hàng vạn người đã được huy động đã trần lưng đào đất và tát nước dưới sự giám sát của binh lính. Đến sáng Hồ Quý Ly đích thân thi sát thấy công việc vẫn chưa hoàn thành hơn nữa đoạn sông lại bị đào lệch một đoạn dài. Hồ Quý Ly tức giận đã ra lệnh chém tất cả những người đã đào lệch đoạn sông này. Đoạn sông này có tên là Mau Rẹ, sau này sông bị lấp dần chỉ còn lại dấu tích được gọi là hồ Mỹ Đàm.

            Còn biết bao giai thoại được lưu giữ trong dân gian về vương triều Hồ, dù những giai thoại này là sự góp nhặt trong dân gian nhằm ca ngợi hay chê trách, công hay tội tất cả đều cho thấy sự nỗ lực, tham vọng của các đấng quân vương nhằm thiết lập triều đại của riêng mình. Triều Hồ giờ đây không chỉ để lại trong dân gian những di sản tinh thần vô giá mà còn để lại cho nhân loại một Di sản văn hoá mang giá trị nghệ thuật kiến trúc độc đáo, giá trị lịch sử - văn hoá sâu sắc và ý nghĩa

Tìm Tour

Yến sào Hà Nội