Những tên gọi khác nhau của Thành Nhà Hồ

18 Jun 2015
Tên gọi Thành Nhà Hồ vốn đã quen thuộc và gần gũi trong suy tưởng của người Việt về một công trình kiến trúc thành đá, một pháo đài quân sự bề thế, chắc chắn, uy nghiêm của một đô thành được xây dựng dưới vương triều Hồ. Nếu toà thành đá và những truyền thuyết về quá trình xây dựng thành sẽ đem đến cho du khách những ấn tượng độc đáo, cảm xúc bất ngờ khi khám phá thì những tên gọi khác nhau về toà thành này sẽ mang đến những điều thú vị mà ít ai biết được.

 

tnh cua nam dep 

 Cửa Nam - nơi diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của vương triều Hồ

* Tên Thành An Tôn

An Tôn là tên đầu tiên Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Đinh Sửu (1397) mùa xuân, tháng giêng, Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh vâng mệnh vua (vua Trần Thuận Tông) đem người vào động An Tôn, huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Hoá, xem xét, đo đạc đất đai, đào hào xây thành, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc, xây cung điện, mở đường phố. Vua có ý dời đô đến đó. Làm 3 tháng thì xong...”.

Toà thành đá hiện còn trên địa phận các làng Tây Giai và Xuân Giai thuộc xã Vĩnh Tiến và làng Đông Môn xã Vĩnh Long (đều thuộc huyện Vĩnh Lộc) cách đây gần 600 năm được xây dựng trên đất đai thuộc động An Tôn, một làng cổ ở phía bắc huyện Vĩnh Ninh (nay là Vĩnh Lộc) sát với sông Lỗi Giang (sông Mã ngày nay). Động An Tôn xưa, ngày nay là các làng Yên Tôn Thượng, Phù Lưu và Yên Tôn hạ (từ Yên và An viết theo chữ Hán đều đọc là an, rồi chuyển thành âm yên). Còn các làng Mỹ Xuyên, Tây Giai, Xuân Giai, Đông Môn, cùng một số làng khác gần đó là những tụ điểm dân cư được hình thành rất lâu, sau khi có thành An Tôn, tức Thành Nhà Hồ ngày nay.

Năm Đinh Sửu (1397), thành An Tôn chưa có tên mới, phải chờ đến mùa Xuân Mậu Dần (1398) sau một số sự kiện chính trị thành có tên gọi là An Tôn.

 

 * Tên Thành Tây Đô

Ngày 15 tháng 3 năm Mậu Dần (1398), vua Trần Thuận Tông ban chiếu nhường ngôi cho Hoàng thái tử An mới 3 tuổi. (vua lúc này 20 tuổi, ở ngôi được 7 năm). Hoàng thái tử lên ngôi ở cung Bảo Thanh, đặt niên hiệu là Kiến Tân nguyên niên. Cùng ngày hôm ấy, xa giá vua Trần Thiếu Đế về thành An Tôn. Vua ngự ngai vàng, trăm quan chầu lạy. Để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội) thành An Tôn được gọi là Thành Tây Đô – trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của nước ta lúc bấy giờ.

 

* Tên là Quốc đô nước Đại Ngu

Năm Canh Thìn (1400), ngày 28 tháng 2, vua Trần Thiếu Đế (5 tuổi) làm lễ nhường ngôi cho Quốc tổ Chương Hoàng đế Lê Quý Ly tại điện Hoàng Nguyên. Năm đó, Hồ Quý Ly lên ngôi lấy hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu là Đại Ngu và nơi đây chính thức trở thành Quốc đô nước Đại Ngu.

Trong 7 năm là quốc đô của triều Hồ, nơi đây đã diễn ra những sự kiện chính trị mà 30 năm cuối vương triều Trần chưa làm được. Đó là những cuộc cải cách lớn về chế độ chính trị, giáo dục, tiền tệ, thuế khoá, quân sự với tham vọng lớn là nhanh chóng làm cho nước Đại Ngu cường thịnh, thoát khỏi những khủng hoảng trầm trọng của đời sống xã hội cuối vương triều Trần để lại.

 

tnh chim phuong 

 Chim phượng bằng đất nung

tìm thấy trên đất Tây Đô

* Tên Thành phủ Thanh Hoá.

Với mưu đồ xâm lược nước ta, mở rộng thế lực của nước Đại Minh hùng cường mới bước lên sân khấu Trung Hoa, vua nhà Minh sai Trương Phụ, một viên tướng dầy dạn với chiến trận, mang 80 vạn quân tinh nhuệ, giương cờ “phù Trần diệt Hồ”tiến vào đất nước Đại Việt. Với sự giúp đỡ của con cháu và quan lại cũ nhà Trần, làm nội ứng đứng sau lưng quân đội triều Hồ, giặc Minh dễ dàng giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Chỉ trong vòng mấy tháng trong năm Đinh Hợi (1407) mà quân đội nhà Hồ đã phải lùi liên tiếp các phòng tuyến chiến đấu cuối cùng bị bại trận hoàn toàn ở cửa biển Kỳ La (nay thuộc huyện Kỳ Anh - Hà Tĩnh), kết thúc vương triều Hồ.

Tháng 11 năm Đinh Hợi (1407), giặc Minh Đánh vào phủ Thiên Xương, chiếm quốc đô của triều Hồ. Thành An Tôn trở thành căn cứ quân sự của giặc Minh.

Sau khi chiếm xong nước Đại Việt, giặc Minh thực hiện chế độ cai trị chia nước ta thành quận, huyện và đặt quan lại cai trị. Thành Đông Đô bị đổi tên thành Đông Quan, lỵ sử Tam ty đô hộ phủ của quận Giao Chỉ, (tên mới đặt cho nước ta). Quốc đô của triều Hồ được đặt tên thành phủ Thanh Hoá.

 

* Tên Thành Tây Kinh, Tây Việt Kinh.

Đánh thắng giặc Minh, đại định thiên hạ Bình Định Vương Lê Lợi lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Đại Việt, đặt tên hiệu là Thận Thiên, quốc đô đặt ở Thăng Long, gọi là Đông Kinh. Thành Thanh Hoá thời thuộc Minh, nay được gọi là Tây Đô, theo tên gọi thời Trần.

Năm Canh Tuất (1430), vua Lê Thái Tổ ban luật lệ, đổi tên chính thức Đông Đô là Đông Kinh, Tây Đô là Tây Kinh.

Nhưng rồi hai từ Tây Kinh lại được chuyển dịch dùng để chỉ miền Thanh Hoá, nơi có một kinh thành thứ hai của vua Lê là Lam Kinh ở xã Lam Sơn, nơi có cung điện, nhà tông miếu thờ cúng tổ tiên của vua, lại có hành cung cho vua ở khi về bái yết tông miếu, sơn lăng.

Còn tên Tây Kinh được đặt năm 1430 để chỉ Tây Đô không còn dùng để chỉ lỵ sở này nữa. Đến năm 1478,Đại việt sử ký toàn thư ghi chép rõ ràng sự phân biệt hai địa danh này:... Vua Lê Thánh Tông về Tây Kinh bái yết lăng miếu. Sau đó vua ngược dòng Lỗi Giang (sông Mã ngày nay) vào Tây Đô bái yết Nguyên miếu… Như vậy rõ ràng Tây Kinh là Lam Kinh, còn Tây Đô là tên cũ để chỉ Tây Kinh có từ năm 1430.

Đến năm 1533, Thái sư Tĩnh quốc công Nguyễn Kim lập vua Lê Trang Tông để chống nhà Mạc ở Đông Kinh cướp ngôi nhà Lê, thành Tây Đô trở thành một trung tâm chính trị, quân sự quan trọng. Trong các sách sử còn gọi nơi đây là Tây Việt Kinh để phân biệt với Đông Việt Kinh của triều Mạc ở Đông kinh lấy giới hạn núi Tam Điệp làm mốc.

Đến đầu thế kỷ XVII, Lê - Trịnh đánh thắng họ Mạc, kinh thành Thăng Long lại thành kinh đô của nhà Lê Trung Hưng, nạn binh lửa chấm dứt. Thành Tây Đô không còn là vị trí quan trọng, lùi dần vào vị trí một sở lỵ nhỏ của địa phương, và cuối cùng trở thành một cổ thành trống rỗng với những tường thành, cổng thành bằng đá.

 

tnh ban do 

 Thành Nhà Hồ nhìn từ trên cao

* Tên là Thạch Thành.

Tên này xuất hiện trong bài “Việt thông khảo tổng luận”của tiến sĩ Lê Tung, Lễ bộ Thượng thư, Đông các Đại học sĩ, tế tửu Quốc tử giám đời vua Lê Tương Dực (1514), in trong Đại Việt sử ký toàn thư: “(Vua Thuận Tông, đời Trần) theo lệnh quyền thần, ngồi giữ ngôi không, công việc ở Kim Âu chưa xong, yến tiệc ở Thạch Thành đương nồng mà các công hầu bị mất”... Mấy câu này là Lê Tung chỉ sự kiện vua Trần Thuận Tông nhường ngôi cho Thái Tử An ở Đại Lại, Hoàng Thái tử An lên ngôi vua ở Tây Đô, và sự kiện hội thề Đốn Sơn với cái chết của Trần Khát Chân và đồng sự...

Hai từ Thạch Thành rõ ràng là chỉ thành đá An Tôn, không liên quan gì với địa danh của huyện Thạch Thành, lúc đó có lẽ mới có tên là Quảng Bình, hoặc Quảng Tế, sau này là Quảng Địa, rồi mới là Thạch Thành.

 

* Tên thành Tây Nhai, Tây Giai.

Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh thắng triều Tây Sơn, thống nhất Nam - Bắc, lập nên triều Nguyễn, lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đặt quốc hiệu là Việt Nam, đóng đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay).

Nhiều địa danh tỉnh, huyện, thành, lỵ sở ở thời ấy được thay đổi để phù hợp với chính trị của triều Nguyễn. Thành Thăng Long - Đông Kinh có tên gọi từ nhiều thế kỷ được đổi tên thành trấn Bắc Thành, đến năm 1821, được đặt tên là tỉnh Hà Nội. Cũng theo luật đó, thành cổ này được mang tên của một làng ở cửa phía Tây thành là thành Tây Nhai. Tên thành Tây Nhai có từ đó. Đến thời vua Thành Thái thì từ Nhai của làng Tây Nhai, Xuân Nhai ở gần thành lại có tên là Tây Giai.

 

 *Tên Thành Nhà Hồ.

Tên Thành Nhà Hồ mới có từ sau Cách mạng tháng Tám, sau khi có nhận thức đúng đắn về các triều đại phong kiến và triều Hồ được coi như một triều đại chính thống trong lịch sử.

Dưới các triều Lê, Nguyễn, các vua Hồ bị coi như kẻ thoán nghịch, nên quốc đô cũ còn lại di tích không được gọi tên theo kẻ thoán nghịch.

Thực ra tên Thành Nhà Hồ đã được các nhà nghiên cứu sử và khảo cổ học người Pháp gọi như vậy từ trước Cách mạng tháng Tám với các từ tiếng Pháp “Citadelle des Hồ”, nhưng đều có chú thích thêm là thành Tây Đô (hoặc Tây Nhai).

Trong khoảng thế kỷ này, toà thành chỉ còn là dấu vết lịch sử với nhiều tên gọi và hiện nay gọi là Thành Nhà Hồ và gắn với nhiều sự kiện lịch sử của cách mạng như: Những năm 1936 - 1939, tại thành đã có cuộc mít tinh treo cờ đỏ búa liềm kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5 ở cửa Bắc, do các chiến sĩ cách mạng ở Vĩnh Lộc tổ chức thực hiện.

Tháng 9 và 10/1941, cuộc chiến đấu ở chiến khu Ngọc Trạo (Thạch Thành) tan vỡ, các chiến sĩ Ngọc Trạo đã rút về làng Cẩm Bào ở phía cửa bắc thành để củng cố lực lượng, chuẩn bị cho các cuộc chiến đấu tiếp theo.

Tháng 3/1945, cuộc mít tinh của hàng ngàn nhân dân các tổng tụ về phía cửa Tây thành đá để ủng hộ Việt Minh chuẩn bị việc tổng khởi nghĩa đánh đổ Nhật – Pháp.

Tháng 6/2011 tên gọi Thành Nhà Hồ đã ghi danh trên bảng vàng Di sản văn hóa thế giới làm nức lòng nhân dân Việt Nam.

Trải qua hơn 600 năm với nhiều tên gọi khác nhau nhưng toà thành vẫn sừng sững chứng kiến biết bao biến cố, thăng trầm của lịch sử dân tộc. Những tên gọi An Tôn, Tây Đô, Tây Kinh… hay Thành Nhà Hồ như những nhân chứng viết tiếp vào trang sử của vương triều Hồ còn dang dở thêm phần rực rỡ và tự hào.

 
tnh rong da

 Đôi rồng đá - di vật còn sót lại của thành Tây Đô

Tìm Tour

Yến sào Hà Nội